Hiển thị các bài đăng có nhãn Media. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Media. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Tổng Quan Về Hệ Sinh Thái Quảng Cáo Hiển Thị

Bạn đang làm việc trong 1 publisher, adnetwork? là một planner trong Agency? thậm chí là tự thực hiện chiến dịch quảng cáo trên Google Display Network (GDN) hay Demand Site Platform (DSP)? Bạn hẳn đã rất quen thuộc với hình thức quảng cáo hiển thị với các hình thức quảng cáo và một hệ thống khác. Nhưng liệu rằng bạn đã bao quát hết được hệ sinh thái của hình thức quảng cáo hiển thị, cách hệ thống vận hành (backend)… hay chỉ mới biết được bề nổi của tảng băng chìm. Bài viết này sẽ giúp bạn ghép các mảnh ghép rời rạc trong hệ sinh thái đó và hiểu được bằng cách nào thông điệp quảng cáo có thể hiển thị đến người tiêu dùng.
Không cần bàn cãi, hệ thống quảng cáo kỹ thuật số thường được miêu tả với những sơ đồ hết sức phức tạp gồm hàng trăm biểu tượng và các mũi tên ngang dọc. Chính nhiều thông tin không cần thiết này lại gây “hoang mang” và “phân tán” cho marketer, brands và các agency quảng cáo. Thực ra, với họ, đơn giản chỉ là cần thấy được “dòng chảy” của thông điệp đi từ brands đến người tiêu dùng như thế nào. Tuy nhiên, hiểu rõ bản chất, các yếu tố/ tầng lớp cấu thành hệ sinh thái quảng cáo kỹ thuật số là điều cần thiết (mặc dù rất phức tạp) để giúp mỗi mắc xích trong đó: các agency quảng cáo, pulisher, marketer áp dụng vào công việc một cách hiệu quả hơn.
Cục quảng cáo tương tác Arena (the Interactive Advertising Bureau’s (IAB) Arena) đã mô tả hệ sinh thái có 6 vòng, từng vòng đại diện cho một khu vực hoạt động riêng biệt, bao quanh đó chính là BRAND – nơi các hoạt động được diễn ra.
6 lĩnh vực đó là: (Xin phép được dùng nguyên bản tiếng anh kèm theo chú thích tiếng Việt)
display-ecosystem-01.png
– Media Planning and Buying, (Lên kế hoạch và mua kênh truyền thông)
– Content Creators, (Tạo nội dung quảng cáo)
– Media Vendors, (Nhà cung cấp công cụ truyền thông)
– Execution Technologies, (Kỹ thuật để thực hiện)
– Media Enhancements, (Thúc đẩy/ cải tiến truyền thông)
– Business Intelligence (Phân tích kinh doanh)
Mỗi lĩnh vực, đến lượt nó, lại được chia nhỏ thành các phân đoạn cụ thể như hình minh họa ở dưới (Từ nào xuất hiện trong biểu đồ sẽ được bôi đậm và bôi đậm, in nghiêng cho các bạn dễ theo dõi)
display-ecosystem-02.png
Hãy bắt từ Brand như là yếu tố cốt lõi của vấn đề, là tiêu điểm, Brand cũng chính là người khởi xướng chiến dịch, thiếu yếu tố này sẽ không có cơ sở để hình thành hệ sinh thái quảng cáo nói chung. Mọi hoạt động của con người và công nghệ quảng cáo chỉ nhằm mục đích duy nhất là phục vụ cho Brand và mục đích mà Brand định sẵn khi phát động chiến dịch quảng cáo.

Media planning & Buying: điểm mặt chỉ tên nơi quảng cáo hiển thị sẽ xuất hiện

display-ecosystem-03.png
Vòng tròn tiếp theo dành cho quyết định của Brand về nơi họ muốn đặt quảng cáo: là website A hay B, vị trí trên hay dưới… Với 1 số công ty, đặc biệt là những công ty quan tâm đến data-driven, bằng kiến và nguồn lực, họ có thể tự vận hành và giám sát hoạt động này trong nội bộ hay “trong nhà” (In-House)
Với một số khác, tiến hành các hoạt động về phát triển ý tưởng, lên plan và mua vị trí quảng cáo được thông qua cácAgency. Sử dụng agency để tận dụng hết khả năng của họ, tăng hiệu quả về mặt chi phí, hay đơn giản là giảm bớt chi phí nhân sự và khối lượng công việc để tập trung lên chiến lược là cách làm đang được nhiều Brand áp dụng.
“Lính mới” gia nhập vòng tròn này là Hệ thống quản lý truyền thông (Media Management Systems). Đây là công cụ tinh vi giúp cho cả Brand và Agency dễ dàng hơn trong việc quản lý các chiến dịch phức tạp. Ngoài ra, nó còn giúp bảo vệ thương hiệu bao gồm cả hình ảnh và dữ liệu. Hệ thống này đưa Brand thoát ra khỏi kỷ nguyên của tập tin, băng, bảng tính và làm cho nó trở nên nhanh hơn, tiết kiệm chi phí hơn trong việc lên kế hoạch, mua, phân tích và tối ưu hóa chiến dịch. Để dễ hình dung, tôi có thể lấy một vài công cụ phổ biến mà bạn đã nghe tên hoặc đã dùng như: dùng Comsore để đưa ra các số liệu về hành vi người dùng internet để có cơ sở lên plan cho chiến dịch mới, dùng Social listening tool để có cái nhìn tổng quát về những gì mà “cư dân mạng” đang nói về brand của bạn trên mạng xã hội để có hướng xử lý kịp thời, dùng Display Planner để lập kế hoạch cho chiến dịch quảng cáo hiển thị…

Content Creators: Tạo nội dung không phải là việc của riêng chuyên gia, người dùng cũng đang lấn sân!

display-ecosystem-04.png
Vòng tròn thứ 3 – Content Creator liên quan đến những loại nội dung mà marketer quyết định hiển thị để tiếp cận người tiêu dùng. Kỷ nguyên mới của digital media đã cho phép mở rộng nội dung và “kích hoạt” những người – tạm gọi là “ký giả” hoàn toàn mới.
Nhà sản xuất content lâu đời nhất thuộc về Publisher. Sau đó đến Brand Content – Nội dung được tạo ra và phổ biến bởi chính thương hiệu. Trong thời đại kỹ thuật số – và cũng bởi vì quảng cáo truyền thống mất dần vị thế – tất cả các brand hiện nay đều trở thành người sáng tạo nội dung. Họ quản lý website, quản lý thương hiệu và quản lý luôn các các website cụ thể của từng chiến dịch (thường được gọi là Microsite).
Như đã nói ở trên, sự đi xuống của quảng cáo truyền thống đã “tiếp tay” cho thời đại digital media khiến cho bất cứ ai cũng trở thành tác giả của 1 đoạn văn tản mạn, 1 bản thu âm, 1 infographic hay 1 video hút view trên Youtube. Những kiểu nội dung như vậy được đặt dưới cái tên User-Generated Content (nội dung được tạo ra bởi người dùng).
Cả Blog hay các mạng xã hội (Facebook, Instagram, Blogger, Tumblr) đều được coi là nội dung do người dùng tạo ra. Youtube – hiện nay được biết đến như là kênh thu thập video online lớn nhất – cũng chỉ “khởi sự” bằng cách cho phép người dùng tự tạo nội dung (video) và sau đó mở rộng vào quản lý sản xuất nội dung một cách chuyên nghiệp. Hay Haivl “đình đám” một thời cũng là ví dụ điển hình cho sự thành công của mô hình cho phép người dùng tự tạo nội dung.
Social Site là mảng ghép còn thiếu cuối cùng của lớp này. Đây là kênh liên lạc chính giữa các nhóm mà trong đó bao gồm các cá nhân đã được chấp nhận. Các trang như Facebook, Instagram, Pinterest, và Snapchat là nơi mà hơn 70% người trưởng thành ở VN (có smartphone và dùng internet) nêu quan điểm, chia sẻ thông tin, hình ảnh, video hàng ngày. Con số này đủ cho thấy số lượng nội dung khổng lồ và vai trò mà Social Site tạo ra hiện nay.

Media Vendor (nhà cung cấp phương tiện truyền thông) – thị trường mua đi – bán lại ngày càng tấp nập.

display-ecosystem-05.png
Kỹ thuật số đã tạo ra – gần như là – một hệ thống không giới hạn về nội dung, chính vì vậy các nhà xuất bản nội dung tìm mọi cách, phương tiện, công cụ để đẩy truyền thông cho các bên có nhu cầu. Trên thế giới, những người giữ cổng và bán hàng đầu tiên về Media là các Publisher lâu đời như ESPN, Time Inc., Condé Nast, and Scripps Networks… Còn ở Việt Nam rất dễ dàng để điểm mặt những “ông lớn” như vnexpress.net, 24h.com.vn,… Trong những bước sơ khai ban đầu, họ tạo ra đội ngũ bán hàng trực tiếp tiếp cận khách hàng hoặc các Media Agency để “bán độc giả” của nội dung do họ sản xuất bằng cách hiển thị banner quảng cáo. Với số lượng không giới hạn về số lượng của inventory – điều này hoàn toàn khác biệt với hình thức quảng cáo trên Tivi, báo in, nơi mà tỷ lệ xuất bản/ sản xuất được duy trì nghiêm ngặt – các publisher có thể tiên đoán được số lượng để từ đó bán ra toàn bộ inventory mà không gặp nhiều khó khăn về khâu sản xuất nội dung.
Adnetwork (mạng quảng cáo) được phát triển trong thập kỷ 90 để tổng hợp inventory từ các Publisher, đóng gói lại và bán cho khách hàng dựa trên nội dung hoặc đối tượng độc giả. Điều này cho phép nhiều trang web tối ưu hóa vị trí quảng cáo và doanh thu trong khi các Agency, marketer đạt được mục tiêu về đối tượng độc giả. Cũng đứng từ góc độ Agency và Marketer, Adnetwork thực sự giúp ích cho việc lựa chọn kênh truyền thông, theo dõi chất lượng của các vị trí (placement), quản lý việc cung cấp quảng cáo (Ad serving) và tối ưu hóa vị trí của dựa trên kết quả của chiến dịch.
Sau Adnetwork, Digital Media Exchanges ra đời như là một hệ thống trung lập của hệ thống máy tính với hàng triệu thuật toán phức tạp– nơi mà các hoạt động mua bán media được giao dịch giống như cố phiếu trên sàn chứng khoán. Người bán quyết định số lượng hiển thị (impression) để bán trên sàn, trong khi người mua đi vào hệ thống, kiểm tra inventory còn khả dụng và tiến hành các giao dịch tự động thông qua máy chủ quảng cáo.
Trao đổi quảng cáo được tạo trong vòng chưa đến 1s như là một cách làm tăng, thậm chí là tối ưu hóa hiệu quả cho tất cả các bên liên quan. Họ cũng phát triển thuật toán đấu gía theo thời gian thực (real-time bidding), theo đó, người bán bán những inventory còn trống với giá không cố định và người mua đấu giá để đạt được quyền mua inventory đó. Tùy thuộc vào số lượng đấu thầu và cơ cấu giá, hệ thống sẽ xác định người chiến thắng và hiển thị quảng cáo ngay tức thì. Với hình thức này, giá cả được tính dựa trên nhu cầu và đối tượng mục tiêu mà người mua muốn nhắm đến.
Tiến lên một bậc cao hơn, DSP (Demand-Side Platforms) phục vụ Marketer (tương đương với bên Mua) – những người cực kỳ quan tâm đến “Nhu cầu” khi thực hiện Media.
DSP kết nối với các Ad Exchange, Ad network, xác định các inverntory  đã được bên mua định sẵn, đặt mua, kết nối vào Ad Serving và sau đó tối ưu hóa chiến dịch trong khi và trả lại dữ liệu cho Agency hoặc nhà quảng cáo để thực hiện các công việc sau đó: báo cáo, phân tích, thanh toán…
Agency Trading Desks (ADTs) là một khái niệm khá mới tại Việt Nam, được phát triển bởi các Agency lớn (thường là các Global Agency) với rất nhiều dữ liệu được thu thập thông qua các chiến dịch quảng cáo đã thực hiện cho khách hàng. ATDs cố gắng giúp khách hàng nâng cao hiệu suất quảng cáo và nhận được giá trị gia tăng từ chính quảng cáo đó (như thu nhập dữ liệu để làm giàu (enrich). Một vài Agency lớn đang nắm giữ ADTs có thể kể đến Havas, WPP, Omnicom.
Tất cả cả hệ thống liệt kê trên tạo ra dành cho bên mua, vậy bên bán dùng cái gì? SSPs hay Sell – Side – Platforms – hệ thống dành cho bên bán (các Publisher là ví dụ) quản lý lượng inventory nhằm khai thác lượng inventory này một các triệt để nhất để tối ưu hóa doanh thu quảng cáo. Ngoài ra, hệ thống này cũng phát triển cho các website nhỏ cho phép người mua và bán quảng cáo gặp nhau trong một mối quan hệ giao dịch minh bạch cho cả hai bên.

Execution Technologies: Chìa khóa tạo lợi thế cạnh tranh

display-ecosystem-06.png
Trong digital media, công nghệ là công cụ đắc lực tham gia trong mọi khâu: từ lên ý tưởng, kế hoạch, mua – bán, phân phối quảng cáo cho đến theo dõi, tối ưu hóa và báo cáo chiến dịch quảng cáo. Công nghệ thay đổi không ngừng với các thuật toán, kỹ thuật khiến cho sức ép cạnh tranh giữa nhà cung cấp dịch vụ càng trở nên gay gắt: cải tiến hoặc là chết!
Điều cơ bản nhất, bất kỳ hệ thống quảng cáo nào cũng cần Ad servers (máy chủ quảng cáo). Ad servers ban đầu được tạo ra để phục vụ nhu cầu cho các network – với vai trò chính là tạo ra một hệ thống báo cáo chung cho toàn bộ chiến dịch được thực hiện trên hàng trăm website trong network đó. Sau đó, adnetwork “thất sủng”, nhường chỗ cho Ad Exchange, DSP hay ADTs (đã đề cập ở trên) khiến Adserver tiến xa hơn một bước nữa để đáp ứng nhu cầu của bên bán – bên mua.
Site serving có chức năng như là một hệ thống quản lý inventory cho các publisher. Tuy nhiên Site serving không phải là lựa chọn duy nhất, thay vào đó có thể dùng một ad server thứ ba (Third-party ad servers) để các agency và các nhà quảng cáo có thể thực hiện quảng cáo trên nhiều website nhưng vẫn có thể quy về một đầu mối báo cáo.
Trong thực tế, bất cứ một đội ngũ kỹ thuật quảng cáo nào cũng có thể xây dựng được ad server, tuy nhiên lựa chọn được sử dụng nhiều nhất vẫn là dùng một hệ thống đã được công nhận và áp dụng rộng rãi trong ngành để đơn giản hóa công việc và quan trọng hơn là chuẩn hóa trong báo cáo. Mediamind là một ví dụ, đây là công cụ tracking và serving được chấp nhận rộng rãi nhất tại Việt Nam hiện nay.
Self-serve DSPs là hệ thống cho phép bất cứ nhà quảng cáo nào cũng có thể mua inventory một cách tự động hóa mà không cần có sự tham gia của con người. Một số dự đoán rằng hình thức sẽ là thế hệ tiếp theo kết nối hoàn toàn bên bán và mua bằng cách tự tận dụng tối đa các kỹ thuật ngày càng tinh vi của hệ thống.

Media Enhancements: Không ngừng tối ưu hóa chiến dịch

display-ecosystem-07.png
Vượt xa những thiết kế nhàm chám với hình ảnh tĩnh hay hoạt ảnh bình thường, Rich media là xu hướng được “chào đón và tiếp đã nồng hậu” ở Việt Nam ngay từ khi mới bước chân vào. Rich media tạo ra tương tác nhiều hơn với rất yếu tố thị giác nổi bật. Ngoài ra, nó mang lại nhiều không gian sáng tạo hơn để brand có thể thỏa sức truyền tải thông điệp. Kho dữ liệu về rich media của Google cung cấp khá đầy đủ các định dạng, demo mà bạn có thể tham khảo.
Bên cạnh tạo ra các định dạng quảng cáo mới, tối ưu hóa thiết kế – Creative Optimization –cho phép xác định thiết kế nào mang lại hiệu quả cao nhất. Phương pháp thường được sử dụng là A/B testing hoặc với công nghệ mới dynamic creative để tìm ra banner nào mang lại hiệu quả cao nhất so với những tiêu chí đã xác định ngay từ đầu chiến dịch.
Trong khi bộ phận thiết kế không ngừng sáng tạo những ý tưởng mới để vừa đảm bảo tính thẩm mỹ vừa đáp ứng nhu cầu của Brand hay chiến dịch, thì bộ phận media miệt mài phân tích để lựa chọn nơi quảng cáo hiển thị đến đúng đối tượng khách hàng. Cả 2 bộ phận này cần làm việc chặt chẽ nếu không muốn rơi vào trường hợp “người đánh trống kẻ thổi kèn”
Tuy nhiên, xác định nơi đặt quảng cáo và ai nhìn thấy quảng cáo là việc không hề dễ. Đã qua rồi cái thời đặt banner lên website chỉ vì nội dung web đó thiên về phụ nữ và “phủ đầu” ngay đối tượng đọc là nữ giới. Ngày nay, tất cả làm việc dựa trên data. Đó là lý do ra đời Demand Management Platform (DMP). DMP được ví như cái kho – nơi data đã được thu thập, xử lý, phân loại đổ về. Sau một quá trình xử lý phức tạp, DMP sẽ làm nhiệm vụ cung cấp data cho các Adnetwork, DSP để các hệ thống đó phân phối quảng cáo đến đúng đổi tượng một cách tự động.
Tất cả hệ thống theo dõi quảng cáo online được thực hiện thông qua hệ thống code, vậy làm sao để quản lý hết tất cả các code đó? Tag Management là câu trả lời. Tag management tự động hóa quản lý tất cả các tags nhằm quy tụ về một tag duy nhất để tăng tốc độ phân phối quảng cáo. Rõ ràng, tag management làm tăng trải nghiệm người dùng khi mà tốc độ tải web nhanh hơn, tất cả những thông tin cần tìm hiểu hiện lên sau 1 – 2s thay vì chờ đợi mòn mỏi. Như một tất yếu, thời gian lưu trang (time onsite), số lượng xem trang (page view), tỷ lệ chuyển đổi sẽ cao hơn (conversion) so với việc không dùng Tag Management khi chưa chưa xét đến yếu tố nội dung web, chất lượng sản phẩm…
Vòng cuối cùng của lớp này là Ad Verification and Privacy. Với sự giúp đỡ của hệ thống này, nhà quảng cáo có thể yên tâm rằng quảng cáo đang được hiển thị đang chạy chính xác nơi họ mong muốn, rằng quảng cáo được nhìn thấy bởi con người chứ không máy tính, rằng môi trường họ nhìn thấy quảng cáo không hề chứa bất kỳ nội dung nào mà nhà quảng cáo hoặc khách hàng của họ không đồng ý. Google, Facebook đang làm rất tốt điều này khi không chỉ tự mình xây dựng hệ thống “phòng thủ” mà còn có hàng loạt các công cụ kiểm tra chéo và giờ là cho phép người dùng tự cáo báo nếu phát hiện sai phạm.

Bussiness Intelligence: Con người thông minh làm cỗ máy thông minh hơn

display-ecosystem-08.png
Vòng ngoài cùng của IAB Arena được dành cho các hệ thống vĩ mô cho phép mỗi bên liên quan trong hệ thống sinh thái quảng cáo hiển thị quản lý một cách hiệu quả hơn công việc kinh doanh của họ. Một trong những hệ thống là Site Measurement and Analytics được phát triển nhằm giúp các bên tạo nội dung (như publisher). Các publisher sử dụng tag để báo cáo lại số liệu sử dụng trên nhiều trang và bao gồm cả nội dung trên đó. Với dữ liệu này, publisher có thể tìm ra cách phát triển và cải thiện nội dung để thu hút nhiều độc giả hơn (và tất nhiên sau đó là bán được nhiều quảng cáo hơn).
Media Attribution được đề cập đến như một hệ thống giúp các marketer nhìn bức tranh tổng thể của chiến dịch theo chuỗi hành vi của khách hàng từ khi biết đến thương hiệu đến khi mua hàng: rằng để đến được bước mua hàng đó có sự tham gia của nhiều kênh quảng cáo và chúng có tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng lên nhau. Điều này hoàn toàn trái ngược với các báo cáo đã lỗi thời hiện nay khi chỉ đưa ra con số click hoặc impression cuối cùng tạo ra đơn hàng đó. Điều đó là không đúng, không đủ và dễ dẫn đến việc sai lầm trong tối ưu hóa chiến dịch. Một vài Brand lớn về Ecommerce ở Việt Nam đã áp dụng hệ thống này: Lazada, Zalora…
Marketing Reporting & Analytics là hệ thống điển hình tùy chỉnh theo nhu cầu marketer và agency. Đây có thể bao gồm nhiều bảng điều khiển (dashboards) cho phép kéo dữ liệu về từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn vĩ mô của chi tiêu quảng cáo, hiệu suất về tương tác, thậm chí là đến đơn hàng thực sự (real sales).
Sự phát tiển cuối cùng để đưa hệ thống báo cáo này lên một “tầm cao mới” là tích hợp báo cáo của các kênh trả tiền (paid media) với hệ thống social listening. Hệ thống “lý tưởng” này giúp các marketer hiểu sự tương tác giữa các kênh trả tiền và hoạt động trên social, để thấy được “dư luận” có đang đi xa so với những gì mình định hướng ngay từ đầu hay không? Hi vọng hệ thống này sớm ra đời để giúp ích cho các marketer nhiều hơn.
Biểu đồ ở dưới sẽ giúp các bạn hình dung rõ hơn những nội dung đã trình bày.
display-graph.png
Hi vọng bài viết hữu ích cho các bạn, mọi thảo luận hay thắc mắc vui lòng để lại trong comment hoặc liên hệ trực tiếp tác giả.
Bài viết được dịch lại, đơn giản hóa các thuật ngữ, thêm các ví dụ tại thị trường Việt Nam và giải thích thêm các chi tiết để giúp người đọc dễ hiểu bởi Huyền Phạm. Bạn có thể xem bài viết gốc tại đây.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Digital Marketing Mix : Product & Price của 4Ps

Có thể là một sự trùng hợp thú vị, cuối năm trước tôi có dịp làm diễn giả của buổi offline“SEO 2013: Định hưởng để thành công"  với chủ đề  “Future of Digital” - cầu nối giữa Digital Marketing với SEO, năm nay tôi lại tiếp tục làm cầu nối giữa Digital Marketing với cộng đồng IT Leader Club.


Tôi trích nội dung đã trình bày về 2 yếu tố căn bản nhất trong Digital Marketing Mix là Product & Price để giúp các bạn hiểu thêm về digital marketing cũng như việc vận dụng thực tế 4Ps trong thế giới digital.

DIGITAL WORLD



Một thống kê từ BI cho chúng ta thấy có gần 3 tỉ người online, chiếm chưa đầy một nửa so với dân số trên thế giới - vốn có hơn 7 tỉ người. So với tỉ lệ này, Việt Nam có khoảng 30 triệu người online, chiếm 35% dân số là một con số lạc quan.

Tỉ lệ này thấp hơn so với Trung Quốc - chiếm 42% dân số và cao hơn nhiều so với con số1,1% của Myanma và 4,9% của Cambodia.

Đến cuối tháng 10/2013, giá trị các công ty là đại gia mà hầu hết chúng ta đều biết như Time Wanrner, Disney, 21st Century Fox.. thấp hơn giá trị của Google và Apple cộng lại.

Google, với hơn 95% doanh thu đến từ quảng cáo trực tuyến định vị mình là công ty “trên đám mây” cho chúng ta thấy tầm quan trọng của quảng cáo trực tuyến, của thế giới digital marketing đang hiện hữu xung quanh chúng ta.

DIGITAL MARKETING LÀ GÌ?

Vậy thế giới digital marketing đó là gì? Chúng ta hãy bắt đầu bằng điều cơ bản nhất, câu chuyện trước khi có internet, trước khi có khái niệm digital marketing: theo bạn marketing là gì?

Nếu bạn Google từ khóa này, bạn sẽ tìm thấy rất rất nhiều câu trả lời khác nhau. Tuy nhiên, về cốt lõi, marketing = market + ing. Làm thế nào để đưa sản phẩm ra thị trường. Chấm hết.

Nếu bạn muốn làm một website thương mại điện tử hay có ý định làm một ứng dụng trên di động, bạn sẽ bắt đầu như thế nào? Với nhiều chuyên gia về công nghệ hay lập trình viên chuyên nghiệp, cài đặt một website Magento không phải là vấn đề lớn với các bạn. Nhưng sau khi cài đặt xong thì làm thế nào để đưa sản phẩm ra thị trường, làm sao để thành công.

Nếu chỉ có riêng về kỹ thuật, có lẽ đội ngũ của VNG đủ giỏi để duy trì được Zing Deal. VNG không duy trì Zing Deal không phải vì kỹ thuật họ không thể đáp ứng. Project Lana tái tập trung vào Bé Yêu không phải vì đội ngũ kỹ thuật không thể đáp ứng nhiều dự án hơn.

Điều gì đã làm các sản phẩm này thành công và sản phẩm kia thất bại? Tech có vẻ như không phải là nguyên nhân chủ yếu của các sự kiện kể trên. Bài học về cốt lõi của Marketing Mix trong thời đại digital có lẽ sẽ không bao giờ cũ!

P1:  PRODUCT


Từ bao giờ Zing Me trở thành cổng game ? Xuất phát điểm là tham vọng muốn xây dựng một mạng xã hội cho Việt Nam, nhưng sau mấy năm chiến đấu với Facebook, Zing Me đã biến thành mạng xã hội dành cho cộng đồng game thủ. Game Over cho tham vọng mạng xã hội nhưng lại là một khởi đầu tốt cho một định vị mới.

Hãy xem lại tham vọng của Zing Me bằng bài viết cách đây 4 năm, với phát biểu của Vương Quang Khải, phó tổng VNG : “Các mạng xã hội thế hệ thứ ba (mà Zing Me và Facebook là hai đại diện) đều không có sự khác biệt quá lớn. Sản phẩm mới ra đời không có nghĩa là phải phủ nhận cái cũ, mà quan trọng là cải tiến cái cũ, đưa ra được những giá trị mới phù hợp hơn. Facebook khi mới ra đời chỉ là một bản sao của mạng xã hội Friendster nhưng do có một số tính năng mới thuận tiện hơn nên đã được người dùng đón nhận nhiệt tình

Niềm tin vào một sản phẩm tốt hơn sẽ dành chiến thắng đang mang lại lửa cho đội ngũ của Zing Me, vào thời điểm mà keyword “mạng xã hội” nóng hơn bao giờ hết. Tốt hơn sẽ có thị phần nhiều hơn? E rằng không. 

Và đây là mục tiêu mới của VNG

Nguồn: Zing
Bạn có chắc một chiếc đồng hồ Rolex, trị giá khoảng 2 tỉ sẽ chạy chính xác hơn đồng hồ điện tử Casio giá 300 USD? Bạn có biết trong cuộc thử mù giữa Pepsi và Coke, sản phẩm nào được người dùng ưa thích hơn không?

Với mạng xã hội, khi Zing Me chỉ là một follower của Facebook, với nhiều cải tiến hơn nhưng không thể cung cấp được các liên kết ra bên ngoài Việt Nam đã bị Facebook chiếm hữu. Facebook sở hữu từ “connection” - giúp chúng ta kết nối và duy trì các mối quan hệ mỏng manh.

Khi lượng người dùng của Facebook đủ lớn, ảnh hưởng bởi “network effects”: giá trị của một mạng xã hội hoặc một sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu người đang dùng nó. Facebook, Skype, điện thoại di động, các ứng dụng OTT như Viber, Line, Zalo là một số ví dụ. Càng có nhiều người dùng mới thì người đang ở bên trong network sẽ càng nhận được nhiều giá trị, đồng thời network càng lớn thì người mới tham gia cũng nhận được nhiều giá trị hơn. 

Nói một cách dễ hiểu, nếu có quá ít người dùng Viber, cài đặt xong bạn sẽ gọi cho ai? 

Những người dùng mới sẽ tham gia vào mạng xã hội mang lại cho họ nhiều giá trị hơn. Vào thời điểm đó, Facebook đang là số 1 toàn cầu và đã có kịp 2 triệu người Việt Nam kết nối. Trong khi đó Zing Me dựa trên cộng đồng game thủ hơn 8 triệu người, nhưng lại không có kết nối với nhau, không có tương tác chất lượng nên người dùng tham gia vào Facebook và ngoảnh mặt với Zing Me. Không quá khó để nhận thấy Zing Me đang là một sản phẩm đuổi theo. 

Với cùng câu hỏi, chúng ta sẽ đặt ra với Anphabe, một sản phẩm clone của LinkedIn, liệu họ có thành công? 

P2. PRICE

Trong cuộc đua về mạng xã hội, để đuổi kịp và vượt qua Facebook là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên bạn không nhất thiết phải là người theo đuôi (follower).  Bạn có thể cung cấp cấp một giá trị hoàn toàn khác, nếu không muốn nói là ngược lại, bạn sẽ ghi dấu ấn của mình trong tâm trí người dùng. Snapchat, công ty từ chối đề nghị mua lại với giá 3 tỉ USD tiền mặt từ Facebook là một ví dụ.

Snapchat đã mang lại giá trị gì khác với Facebook, khiến cho người dùng upload hình ảnh nhiều hơn cả Facebook, mạng xã hội có hơn 1 tỉ người? Mỗi ngày, trung bình có 400 triệu hình ảnh và video được gửi qua Snapchat, bằng Facebook và Intagram cộng lại. 

Facebook được định vị là timeline, phản ánh con người thật của bạn trong cuộc sống, bạn là người thật. Những gì bạn post trên đó sẽ tồn tại mãi mãi. Snapchat cung cấp giá trị ngược lại: những gì bạn upload chỉ là tạm thời - temporary social media - chỉ tồn tại trong 10 giây ngắn ngủi. Những hình ảnh video bị xóa bỏ hoàn toàn, tránh rủi ro người gửi bị ảnh hưởng sau này - những giây phút mà sau đó người ta chỉ muốn quên đi hoặc những hình ảnh sợ bị bố mẹ phát hiện.

Về kỹ thuật, những gì Snapchat làm được, chúng ta có thể làm được, nhưng giá trị mà Snapchat mang lại, trải nghiệm mà họ mang lại không chỉ thuần túy là kỹ thuật mà là mức độ hiểu sâu về thói quen người dùng, là tầm nhìn về khoảng trống thị trường.

Vậy còn Webtretho thì sao? Liệu WTT có thành công? Hãy cùng xem các chủ đề được chia sẻ trên WTT: chuyện "thắc mắc về lần đầu quan hệ", chuyện "nhật ký đêm tân hôn", chuyện "đời sống tình dục của vợ chồng"..

Trong buổi offline, rất nhiều bạn đã cười khi tôi đọc các số chủ đề này. Nhiều bạn có thể chưa biết Webtretho có những chủ đề này.  Liệu chúng ta có dám trao đổi tâm sự thầm kín, chuyện giường chiếu, chuyện chính họ đang ngoại tình, những ray rứt, những tổn thương.. bằng Facebook? Chắc chắn là không.

Webtretho cung cấp giá trị ở một góc mới, khác với Snapchat. Ở đó là bạn có thể không phải người thật, nơi bạn có thể tâm sự với một nick name mà không ai biết bạn. Ở vai trò là Product Manager của mục Tâm sự, tôi phải đọc rất nhiều bài để hiểu được những suy nghĩ sâu kín (customer insight) của người sử dụng. Tôi bắt gặp rất nhiều chủ đề tâm sự bắt đầu với câu : Em là member cũ, nhưng đăng ký nick mới để dễ tâm sự.

Webtretho giống như một ngôi nhà để họ bày tỏ, bộc lộ để được an ủi, tư vấn, để băng bó trái tim đang tan vỡ. Ở Webtretho, họ là vô danh, họ có thể bày tỏ. WTT hoàn toàn trái ngược với Facebook. Đó chính là giá trị và định vị để mang lại giá trị mà Facebook không thể nào làm được. Nếu Facebook cũng tập trung vào giá trị này họ sẽ ra khỏi giá trị cốt lõi của chính họ.

Marketing thường bắt đầu bằng cách tìm kiếm các khoảng trống trong thị trường và đáp ứng các các nhu cầu đó. Khi công nghệ bắt đầu từ nhu cầu của người dùng, bạn sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

Với các sản phẩm như Snapchat, Webtretho, mức giá cho người sử dụng không phải là họ phải trả bao nhiêu tiền, đơn giản vì các dịch vụ này miễn phí. Mức chi phí ẩn mà họ phải trả cho mỗi sản phẩm gần như nhau: thời gian, chi phí internet, chi phí điện..

Yếu tố Price trong Marketing thường đi đôi với Giá Trị (Value) mà người dùng nhận được. Khi mức chi phí phải trả gần bằng không, các sản phẩm sẽ tập trung vào tập giá trị mà người dùng nhận được khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ này. Sản phẩm dịch vụ nào mang lại nhiều giá trị hơn cho người dùng sẽ chiến thắng.

Cũng như một chàng trai mang nhẫn đi cầu hôn một cô gái, nếu chiếc nhẫn của bạn  - sản phẩm của bạn - mang lại giá trị thực sự cho người dùng, giúp cho cuộc sống tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn, lời cầu hôn của bạn sẽ được chấp nhận!

http://blog.chamxanh.com/2014/01/digital-marketing-mix.html

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Programmatic & DSP (demand side platform) tại Việt Nam

Programmatic là thuật ngữ ngày một thông dụng nhưng lại rất ít người thực sự hiểu. Nói một cách tóm tắt, đó là một sự chuyển đổi (transition) sang thế hệ mới của quảng cáo trực tuyến. Hàng tỉ USD đã được đầu tư và đặt cược vào sự chuyển đổi đó.

A Butterfly Emerge
Tại sao nó lại quan trọng?

Đặt phòng, mua vé máy bay trực tuyến ngày một dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết. Ngoài các tay to toàn cầu như Agoda, Expedia, hàng loạt các công ty trong nước như MyTour, iVivu, Chudu24, Yesgo.. đang cạnh tranh một cách mạnh mẽ để giành thị phần.

Bạn có nhớ lần cuối cùng bạn mua vé máy bay thông qua đại lý của VietnamAirlines, đặt phòng khách sạn thông qua điện thoại hoặc qua các đại lý du lịch?  Hơn một thập kỷ qua, hàng tỉ USD đã được đầu tư và đặt cược vào việc thị trường quảng cáo sẽ trải qua sự chuyển đổi như việc mua vé máy bay hay đặt phòng khách sạn. 

Với quảng cáo thì sao? Đó là một thị trường phân mảnh tại Việt Nam. Khi còn làm việc tại Carat, digital team phải làm việc với hàng loạt các Publisher như 24h, Vnexpress, OtoSaigon, Otofun, Zing..  từng bên một. Nếu muốn chạy Adnetwork, chúng tôi sẽ có rất nhiều contact để gọi booking trước khi chạy: Lava, Innity, Ambient, Admicro.. Đó là chưa kể team digital tự vận hành Doubleclick, Google Adwords (SEM/GDN/Youtube/Admob..), Facebook.

Hãy tưởng tượng đến một lúc nào đó bạn chỉ cần thông qua một platform và chạy mượt mà mọi quảng cáo đó. Chỉ cần thông qua một nền tảng, quảng cáo của bạn sẽ xuất hiện trên GDN, Facebook (thông qua FBX), các Ad Network. Bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian liên hệ, lấy số liệu, tổng hợp, báo cáo, tối ưu. Mọi thứ ở một chỗ. Khi mọi việc được tự động hóa, chi phí sẽ rẻ hơn. Những công việc nặng nề về số liệu sẽ được giải phóng, con người sẽ tập trung vào công việc sáng tạo.
IAB: Advertising Ecosystem
Nếu bạn vận hành trực tiếp DSP hoặc thông qua DSP, bạn sẽ giảm được một khối lượng khổng lồ công việc liên hệ với nhiều bên: Ad Exchange, SSP, Ad network, Publisher.
Brian Lesser, global CEO of Xaxis thuộc WPP nhận xét: "Điều bạn thấy không chỉ là một sự thay đổi cách mua media một cách căn bản mà còn là cách nhà quảng cáo tương tác với người tiêu dùng hiệu quả hơn".

Đầu tháng 5/2014, Ad Age nhận được một tài liệu American Express - thương hiệu đã chi $299M cho advertising media (not including search) cho thị trường US trong năm 2013 - gửi cho các đối tác về công nghệ quảng cáo (ad tech) tiềm năng để bắt đầu cho mục tiêu sẽ chi 100% ngân sách quảng cáo online sang programmatic. Đây có vẻ là một tham vọng hơn là một kỳ vọng. Khi được hỏi, Amex trả lời: "đây là một suy nghĩ chiến lược về mặt lý thuyết" (theoretical strategic thought). Hiện tại, media agency của Amex là Mindshare, nếu việc chuyển đổi thành công, mối quan hệ của họ sẽ khác đi. Tôi đang tự hỏi Xaxis, DSP của của WPP liệu có trở thành đối tác chính của họ lần này?

Tuy nhiên không phải cả thế giới đều chuyển sang programmactic, đó chỉ là một phần của quảng cáo trực tuyến (online-display advertising). Vào năm 2013 chỉ có 31% ngân sách ở US dùng RTB/programmactic. Dự báo đến 2018, ngân sách cho RTB/Programmatic sẽ là 50%, tương đương 18.2$B tại thị trường US.



Programmatic là gì?
Programmatic đơn giản là tự động (program + automatic). Rất nhiều người nhầm lẫn với việc mua quảng cáo thông qua đấu giá bằng máy tính thường được gọi là RTB (real-time bidding) nhưng đây chỉ là một cách để mua quảng cáo tự động (programmatic). Điểm cốt lõi của của programmatic là mua quảng cáo thông qua máy móc (machines).

Thuật ngữ này bao gồm một loạt các công nghệ giúp cho việc tự động mua inventory, xuất hiện quảng cáo (placement), tối ưu hiệu quả thay cho con người như gọi điện, fax, gặp gỡ.. để booking quảng cáo. Thông qua các công nghệ tự động, nhà quảng cáo có thể mua quảng cáo theo cách họ mua hàng trên Amazon hay đấu giá trên eBay.

Video về sự tiến hóa của quảng cáo trực tuyến sẽ giải thích nhiều khái niệm mà có thể bạn chưa hiểu rõ: SSP, Ad network, Ad Exchage, DSP..

 


Demand Side Platform (DSP) là gì?
Demand Side Platforms sẽ giúp agency hoặc nhà quảng cáo mua inventory từ nhiều nguồn bao gồm ad exchanges, ad networks hoặc các nền tảng bán quảng cáo nói chung (sell side platforms). DSP sẽ tận dụng khả năng real-time bidding để tham gia vào việc đấu giá và mua quảng cáo. Điểm khác biệt giữa DSP và Ad Network là DSP không cung cấp dịch vụ quản lý campaign, cung cấp dịch vụ cho publisher hoặc có mối quan hệ trực tiếp với các publisher.

Làm việc thông qua DSP - iab.
Trong hình vẽ trên, bạn sẽ thấy agency hoặc advertiser chỉ cần thông DSP, các phần còn lại không cần quan tâm. DSP sẽ tự làm việc với Ad Exchange để mua inventory về cho nhà quảng cáo. DSP sẽ dự trên cookies để quyết định ai là audience phù hợp để quảng cáo và chọn giá thầu nào là tốt nhất.

DSP thì liên quan gì đến Programmatic
RTB là thế hệ đầu tiên của của programmatic. DSP sử dụng RTB để mua quảng cáo nênDSP được xem là công cụ của programmatic.

DSP tại Việt Nam
Tại Việt Nam, programmatic bắt đầu được biết đến khi có sự xuất hiện của DSP.

Giải thích một số thuật ngữ liên quan tới Ad Tech từ Adage

Một trong số các DSP đầu tiên là MicroAd, với DSP mang tên BLADE khởi động với việc bắt tay Ambient, một trong các Adnetwork lớn tại Việt Nam. Ống thở của hầu hết các DSP tại Việt Nam thường sẽ là:
  1. Google Display Network
  2. OpenX
  3. Microsoft (MSN)
  4. Yahoo
  5. Facebook Exchange (FBX)
Đọc thêmFBX: Giải pháp Retargeting của Facebook - Khi cuộc đua Like trở nên vô nghĩa!
Các ad network nội địa như eclick, admicro, lava.. đóng cửa tự bán chứ không kết nối nên dĩ nhiên không có mặt ở danh sách "dùng cho dsp thở" này. Khi bắt đầu với một Adnetwork có độ phủ hơn 90% theo số liệu Comscore, đó là một lợi thế lớn để các khách hàng tin tưởng vào công nghệ và khả năng tiếp cận khách hàng. Thông qua Ambient, MicroAd tiếp cận được các premium inventory (vd: Vnexpress) mà trước giờ các bạn DSP khác không tiếp cận được

Đây là một lợi thế rất lớn ban đầu cho MicroAd, vì các Publisher đang bán inventory với giá cao chót vót trong thị trường như Vnexpress không dễ gì tham gia vào thị trường tự do một sớm một chiều. Đơn giản là vì khi họ tham gia vào sẽ dựa trên đấu thầu và nó có thể thấp hơn giá hiện tại. Khi các nhà quảng cáo có thể mua được một lượng lớn inventory thông qua tự động với giá rẻ, họ sẽ không mua giá đắt nữa. 

Một trong các trường hợp nhãn tiền là Zing,  trừ khi bất khả kháng, các đối tác sẽ mua thông qua Google bằng CPC, mô hình có lợi hơn so với CPD hoặc CPM.

Một trong những đối tượng đầu tiên hào hứng dùng thử DSP chính là các bạn ecommerce vì một số DSP mang lại một mô hình CPA, phù hợp với các bạn làm thương mại điện tử hơn so với CPD, CPC thông thường.
CPA cho một website thương mại điện tử đang có performance rất tốt - Thanks Giang Long!
Hiện tại, các bạn DSP lớn trên thị trường quốc tế cũng dần có mặt và cạnh tranh quyết liệt với nhau. Thông tin từ Digital Marketing Agency tại đây và đây cho thấy danh sách các DSP đã có mặt Việt Nam gồm có:
  • Sociomantic
  • Criteo có các khách hàng như: lazada, zalora, chudu24, mytour, cdiscount, sieumua.com, nhommua.com, dienmaycholon.com.vn, chuẩn bị chay với Sendo, Deca (thanks Duy Khang)
  • MicroAd - Blade
  • Ureka - AppNexus 
  • Vizury
  • FreakOut - hiện tại bạn có thể làm việc thông qua Dtrack/Mekong
  • Tube Mogul - DSP về Video (thanks Dona)
  • VServ 
  • Innity 
Trong đó:
  • Hotdeal thì dùng Sociomantic
  • Cdiscount xài  Criteo, MicroAd và cả Sociomantic
  • Rocket Internet thì có Zalora hiện đang chạy với Criteo, Socialmantic (chạy nhiều nước cùng lúc)
  • Tiki - trước đây từng chạy MicroAd, Criteo

Bạn đã từng làm việc với DSP, hãy chia sẻ trải nghiệm của bạn? Nếu vẫn chưa chạy thử, hãy chia sẻ lý do của bạn?

Copy Bài viết trên blog chamxanh.com của bạn Hiển

http://blog.chamxanh.com/2014/10/programmatic-dsp-demand-side-platform.html

 

Copyright @ 2013 thevwa.com.

Designed by THEVWA.COM & Thế Nguyễn